THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN Tháp Canh
Tháp Canh
THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN
Việt
  • KINH THÁNH
  • ẤN PHẨM
  • NHÓM HỌP
  • Biết được “ý của Đấng Christ”
    Tháp Canh—2000 | 15 tháng 2
    • Biết được “ý của Đấng Christ”

      “Ai đã biết ý Chúa [“Đức Giê-hô-va”, “NW”], đặng dạy-dỗ Ngài? Nhưng phần chúng ta, thì có ý của Đấng Christ”.—1 CÔ-RINH-TÔ 2:16.

      1, 2. Trong Lời Ngài, Đức Giê-hô-va thấy tiết lộ điều gì về Chúa Giê-su là thích hợp?

      CHÚA GIÊ-SU có diện mạo như thế nào? Tóc ngài màu gì? Còn da ngài? Mắt ngài? Ngài cao bao nhiêu? Nặng bao nhiêu? Qua nhiều thế kỷ, có nhiều hình tượng mô tả Chúa Giê-su, có cái vừa phải, có cái gượng gạo khó đúng sự thực. Một số hình miêu tả ngài rất đàn ông và đầy khí lực, trong khi những hình khác lại tả ngài yếu ớt, xanh xao.

      2 Tuy nhiên, Kinh Thánh không chú trọng ngoại diện của Chúa Giê-su. Thay vì thế, Đức Giê-hô-va thấy thích hợp là tiết lộ điều quan trọng hơn nhiều: nhân cách Chúa Giê-su. Lời tường thuật trong Phúc Âm không những thuật lại những gì Chúa Giê-su nói và làm mà còn cho biết tình cảm sâu sắc và lối suy nghĩ đằng sau lời nói và việc làm của ngài. Bốn lời tường thuật được soi dẫn này giúp chúng ta xem kỹ điều mà sứ đồ Phao-lô gọi là “ý của Đấng Christ”. (1 Cô-rinh-tô 2:16) Điều quan trọng là chúng ta quen thuộc với ý nghĩ, tình cảm và nhân cách của Chúa Giê-su. Tại sao? Vì ít nhất hai lý do.

      3. Biết rõ ý Đấng Christ có thể cho chúng ta sự hiểu biết nào?

      3 Thứ nhất, ý của Đấng Christ cho chúng ta một ý niệm về ý của Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su thân thiết với Cha ngài đến độ ngài có thể nói: “Ngoài Cha không ai biết Con là ai; ngoài Con, và người nào mà Con muốn tỏ ra cùng, thì cũng không có ai biết Cha là ai”. (Lu-ca 10:22) Như thể Chúa Giê-su nói: ‘Nếu muốn biết Đức Giê-hô-va như thế nào thì hãy nhìn ta’. (Giăng 14:9) Vì vậy, khi chúng ta nghiên cứu những gì sách Phúc Âm cho biết về cách suy nghĩ và cảm xúc của Chúa Giê-su, thì trên thực tế chúng ta đang học biết cách suy nghĩ và cảm xúc của Đức Giê-hô-va. Sự hiểu biết như thế giúp chúng ta đến gần Đức Chúa Trời hơn.—Gia-cơ 4:8.

      4. Nếu muốn thực sự hành động như Đấng Christ, chúng ta phải học điều gì trước tiên, và tại sao?

      4 Thứ hai, biết được ý của Đấng Christ giúp chúng ta “noi dấu chân Ngài”. (1 Phi-e-rơ 2:21) Noi theo Chúa Giê-su không chỉ là vấn đề lặp lại lời ngài và bắt chước việc ngài làm. Vì lời nói và hành động chịu ảnh hưởng của ý nghĩ và tình cảm, việc noi theo Đấng Christ đòi hỏi chúng ta vun trồng cùng một “tâm-tình” như ngài. (Phi-líp 2:5) Nói cách khác, nếu muốn thực sự hành động như Đấng Christ, trước nhất chúng ta phải tập suy nghĩ và cảm xúc giống như ngài, làm hết khả năng chúng ta với tư cách người bất toàn. Vậy với sự giúp đỡ của những người viết Phúc Âm, chúng ta hãy xem xét kỹ ý của Đấng Christ. Trước tiên chúng ta sẽ thảo luận các yếu tố ảnh hưởng cách suy nghĩ và cảm xúc của Chúa Giê-su.

      Đời sống của ngài trước khi làm người

      5, 6. (a) Những người chúng ta kết giao có thể có tác động nào đến chúng ta? (b) Con đầu lòng của Đức Chúa Trời kết hợp với ai trên trời trước khi xuống đất, và điều này tác động đến ngài như thế nào?

      5 Những người thân cận có thể tác động đến chúng ta, ảnh hưởng tốt hay xấu đến ý nghĩ, tình cảm và hành động của chúng ta.a (Châm-ngôn 13:20) Hãy xem xét Chúa Giê-su đã kết hợp với ai trên trời trước khi xuống đất. Sách Phúc Âm Giăng lưu ý đến đời sống của Chúa Giê-su trước khi làm người với tư cách “Lời”, tức Phát Ngôn Viên, của Đức Chúa Trời. Giăng nói: “Ban đầu có Lời, và Lời ở với Đức Chúa Trời, và Lời là thần. Đấng này ban đầu ở với Đức Chúa Trời”. (Giăng 1:1, 2, NW) Vì Đức Giê-hô-va không có sự bắt đầu, Lời ở cùng với Đức Chúa Trời từ “ban đầu” hẳn nói đến lúc bắt đầu cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời. (Thi-thiên 90:2) Chúa Giê-su là “Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên”. Vì thế, ngài hiện hữu trước khi các tạo vật thần linh khác và vũ trụ vật chất được tạo ra.—Cô-lô-se 1:15; Khải-huyền 3:14.

      6 Theo một số ước tính khoa học, vũ trụ vật chất đã hiện hữu ít nhất 12 tỉ năm. Nếu những ước tính này có phần nào đúng , thì Con đầu lòng của Đức Chúa Trời được gần gũi với Cha ngài hàng vạn kỷ trước khi A-đam được tạo ra. (So sánh Mi-chê 5:1). Bởi đó, một sự gắn bó trìu mến và sâu sắc phát triển giữa hai Đấng đó. Là sự khôn ngoan được nhân cách hóa, Con đầu lòng này trước khi làm người đã được miêu tả nói rằng: “Hằng ngày ta là sự khoái-lạc Ngài [Đức Giê-hô-va], và thường thường vui-vẻ trước mặt Ngài”. (Châm-ngôn 8:30) Chắc chắn kết hợp mật thiết với Nguồn yêu thương hàng thiên kỷ tác động sâu sắc đến Con của Đức Chúa Trời! (1 Giăng 4:8) Người Con này biết được và phản ánh các ý nghĩ, tình cảm và đường lối của Cha một cách mà không ai khác có thể sánh bằng.—Ma-thi-ơ 11:27.

      Đời sống trên đất và ảnh hưởng đối với Chúa Giê-su

      7. Con đầu lòng của Đức Chúa Trời cần phải xuống đất vì một trong những lý do nào?

      7 Con của Đức Chúa Trời có những điều khác nữa phải học hỏi, vì ý định của Đức Giê-hô-va là trang bị Con Ngài để trở thành Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đầy lòng trắc ẩn, có thể “cảm-thương sự yếu-đuối chúng ta”. (Hê-bơ-rơ 4:15) Để hội đủ điều kiện thực hiện vai trò này là một trong những lý do Con xuống đất làm người. Là người sống trên đất, Chúa Giê-su ở trong những hoàn cảnh và chịu những ảnh hưởng mà trước đây ngài chỉ thấy từ trên trời. Bây giờ chính ngài có thể trải nghiệm những cảm xúc và tình cảm của loài người. Có những lúc ngài cảm thấy mệt mỏi, khát và đói. (Ma-thi-ơ 4:2; Giăng 4:6, 7) Hơn thế nữa, ngài chịu đựng mọi gian nan và đau khổ. Bởi đó ngài “học-tập vâng lời” và hoàn toàn hội đủ điều kiện để thực hiện vai trò Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm.—Hê-bơ-rơ 5:8-10.

      8. Chúng ta biết gì về đời sống lúc đầu trên đất của Chúa Giê-su?

      8 Còn những kinh nghiệm của Chúa Giê-su trong thời gian đầu ở trên đất thì sao? Thời thơ ấu của ngài được ghi chép lại rất vắn tắt. Trên thực tế, chỉ có Ma-thi-ơ và Lu-ca thuật lại những sự kiện xung quanh việc ngài sinh ra. Những người viết Phúc Âm biết rằng Chúa Giê-su đã sống trên trời trước khi xuống đất. Sự hiện hữu trước khi làm người, hơn bất cứ điều gì khác, đã có phần trong việc hình thành nhân cách của ngài. Tuy nhiên, Chúa Giê-su hoàn toàn là một con người. Mặc dù hoàn toàn, ngài vẫn phải lớn lên từ thời sơ sinh qua thời thơ ấu và tuổi thiếu niên đến tuổi trưởng thành, học tập suốt thời gian đó. (Lu-ca 2:51, 52) Kinh Thánh cho biết vài điều về đời sống ban đầu của Chúa Giê-su, là những điều chắc chắn ảnh hưởng đến ngài.

      9. (a) Điều gì cho thấy Chúa Giê-su sinh ra trong một gia đình nghèo? (b) Có thể Chúa Giê-su đã lớn lên trong hoàn cảnh nào?

      9 Bằng chứng cho thấy Chúa Giê-su sinh ra trong một gia đình nghèo. Chúng ta nhận biết điều này qua lễ vật mà Giô-sép và Ma-ri đem đến đền thờ khoảng 40 ngày sau khi ngài ra đời. Thay vì đem một chiên con làm của-lễ thiêu và một bồ câu con hoặc một cu con làm của-lễ chuộc tội, họ đã đem “một cặp chim cu, hoặc chim bồ-câu con”. (Lu-ca 2:24) Theo Luật Pháp Môi-se, lễ vật này dành cho người nghèo. (Lê-vi Ký 12:6-8) Cuối cùng, gia đình thấp kém này có thêm con. Sau khi Chúa Giê-su sinh ra bằng phép lạ, Giô-sép và Ma-ri có ít nhất sáu người con khác bằng phương pháp tự nhiên. (Ma-thi-ơ 13:55, 56) Vậy Chúa Giê-su đã lớn lên trong một gia đình đông con, có thể trong hoàn cảnh đơn sơ.

      10. Điều gì cho thấy Ma-ri và Giô-sép là những người biết kính sợ Đức Chúa Trời?

      10 Chúa Giê-su được nuôi dưỡng bởi cha mẹ biết kính sợ Đức Chúa Trời. Mẹ ngài, Ma-ri, là một người đàn bà xuất sắc. Hãy nhớ lại là khi chào hỏi bà, thiên sứ Gáp-ri-ên nói: “Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi”. (Lu-ca 1:28) Giô-sép cũng là một người thành kính. Hàng năm ông trung thành đi đến Giê-ru-sa-lem để dự Lễ Vượt Qua, một cuộc hành trình dài 150 kilômét. Ma-ri cũng đi dự, mặc dù chỉ người nam cần phải đi. (Xuất Ê-díp-tô Ký 23:17; Lu-ca 2:41) Vào một dịp lễ như thế, sau khi tìm kiếm khắp nơi, Giô-sép và Ma-ri thấy Chúa Giê-su, lúc đó 12 tuổi, trong đền thờ ở giữa các thầy thông thái. Chúa Giê-su nói với cha mẹ ngài lúc đó đang lo lắng: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lu-ca 2:49, Tòa Tổng Giám Mục) “Cha”—từ này hẳn có một ý nghĩa nồng hậu và tích cực đối với Chúa Giê-su trẻ tuổi. Một lý do là ngài hiển nhiên được cho biết rằng Đức Giê-hô-va là Cha thật của ngài. Ngoài ra, Giô-sép hẳn là một người cha nuôi tốt đối với Chúa Giê-su. Chắc chắn Đức Giê-hô-va đã không chọn một người nghiệt ngã hoặc tàn ác để nuôi nấng Con yêu quý của Ngài!

      11. Chúa Giê-su đã học nghề gì, và trong thời Kinh Thánh, làm nghề này đòi hỏi điều gì?

      11 Trong thời gian ở Na-xa-rét, Chúa Giê-su học nghề thợ mộc, có thể là từ cha nuôi Giô-sép. Chúa Giê-su thành thạo nghề này đến độ chính ngài được gọi là “thợ mộc”. (Mác 6:3) Trong thời Kinh Thánh được viết ra, thợ mộc làm công việc xây nhà, đóng bàn ghế (bao gồm bàn, ghế đẩu và ghế dài), và chế tạo nông cụ. Trong Dialogue With Trypho, Justin Martyr, thuộc thế kỷ thứ hai CN, viết về Chúa Giê-su: “Ngài quen làm nghề thợ mộc khi sống giữa loài người, làm cày và ách”. Công việc như thế không dễ, vì thợ mộc thời xưa có lẽ không thể mua gỗ. Rất có thể, ngài đi ra ngoài, chọn một cây rồi đốn gỗ mang về nhà. Vì thế Chúa Giê-su có lẽ trải qua những thách thức của việc làm lụng kiếm sống, giao dịch với khách hàng và trả các chi tiêu.

      12. Điều gì cho thấy Giô-sép chết trước Chúa Giê-su, và sự kiện này đòi hỏi gì nơi Chúa Giê-su?

      12 Là con cả, Chúa Giê-su có lẽ giúp chăm lo cho gia đình, nhất là vì Giô-sép hình như qua đời trước Chúa Giê-su.b Tháp Canh của Si-ôn (Anh ngữ) ngày 1-1-1900 nói: “Truyền thống nói rằng Giô-sép qua đời khi Chúa Giê-su còn trẻ, và ngài làm nghề thợ mộc để nuôi gia đình. Có đoạn trong Kinh Thánh chứng thực điều này, nói rằng chính Chúa Giê-su được gọi là thợ mộc và cũng nhắc đến mẹ cùng anh em ngài, nhưng không nói đến Giô-sép. (Mác 6:3) ... Vậy rất có thể là thời gian mười tám năm dài trong đời của Chúa chúng ta, từ lúc sự kiện [được ghi nơi Lu-ca 2:41-49] xảy ra đến lúc làm báp têm, ngài làm những việc thông thường trong đời sống”. Ma-ri và các con, kể cả Chúa Giê-su, có thể từng trải qua nỗi đau đớn khi người chồng và cha yêu dấu qua đời.

      13. Khi Chúa Giê-su bắt đầu làm thánh chức, tại sao ngài có sự hiểu biết, sự thấu hiểu và tình cảm sâu sắc mà không người nào khác có thể có được?

      13 Rõ ràng Chúa Giê-su không sinh ra để được sống nhàn hạ. Thay vì vậy, ngài trực tiếp trải nghiệm đời sống của người bình thường. Rồi, vào năm 29 CN, đến lúc Chúa Giê-su thi hành nhiệm vụ đang chờ đợi ngài, mà Đức Chúa Trời đã giao phó. Vào mùa thu năm đó, ngài làm báp têm trong nước và thọ sinh làm Con thiêng liêng của Đức Chúa Trời. ‘Trời mở ra trước mắt ngài’, hiển nhiên cho thấy ngài bấy giờ có thể nhớ lại cuộc sống trên trời trước khi làm người, bao gồm các ý nghĩ và tình cảm của ngài trước kia. (Lu-ca 3:21, 22) Vì vậy, khi Chúa Giê-su bắt đầu làm thánh chức, ngài có sự hiểu biết, sự thấu hiểu và tình cảm sâu sắc mà không người nào khác có thể có được. Với lý do chính đáng, những người viết Phúc Âm viết phần lớn về các sự kiện trong thánh chức của Chúa Giê-su. Mặc dù vậy, họ cũng không thể ghi chép lại hết những gì ngài nói và làm. (Giăng 21:25) Nhưng những gì họ được soi dẫn để ghi chép giúp chúng ta xem xét kỹ ý của người vĩ đại nhất đã từng sống.

      Chúa Giê-su là người như thế nào

      14. Các sách Phúc Âm tả Chúa Giê-su là người nồng hậu và có tình cảm sâu sắc như thế nào?

      14 Qua sách Phúc Âm chúng ta thấy rõ Chúa Giê-su là một người nồng hậu và có tình cảm sâu sắc. Ngài biểu lộ nhiều cảm xúc khác nhau: thương xót người phung (Mác 1:40, 41); đau lòng về những người không đáp ứng (Lu-ca 19:41, 42); phẫn nộ chính đáng với những người đổi bạc tham lam (Giăng 2:13-17). Là người biết thấu cảm, Chúa Giê-su có thể xúc động rơi nước mắt, và ngài không che giấu cảm xúc của mình. Khi bạn yêu dấu của ngài là La-xa-rơ chết, cảnh Ma-ri, em La-xa-rơ, khóc lóc đã làm Chúa Giê-su xúc động đến độ chính ngài cũng rơi nước mắt và khóc trước mặt những người khác.—Giăng 11:32-36.

      15. Tình cảm nhân hậu của Chúa Giê-su được thể hiện rõ như thế nào qua cách ngài xem người khác và đối xử với họ?

      15 Tình cảm nhân hậu của Chúa Giê-su đặc biệt thể hiện rõ qua cách ngài xem người khác và đối xử với họ. Ngài chú ý giúp người nghèo và người bị áp bức, giúp họ ‘tìm sự yên-nghỉ cho linh-hồn’. (Ma-thi-ơ 11:4, 5, 28-30) Ngài không quá bận rộn đến nỗi không đáp ứng được nhu cầu của người khổ đau, dù đó là một người đàn bà bị xuất huyết lén rờ áo ngài hoặc một người ăn mày mù không chịu im lặng. (Ma-thi-ơ 9:20-22; Mác 10:46-52) Chúa Giê-su chú ý đến những điều tốt nơi người khác và khen họ; song, ngài cũng sẵn sàng khiển trách khi cần thiết. (Ma-thi-ơ 16:23; Giăng 1:47; 8:44) Trong thời mà phụ nữ chỉ hưởng được ít quyền, Chúa Giê-su tôn trọng phẩm cách của họ một cách thăng bằng khi đối xử với họ. (Giăng 4:9, 27) Chúng ta có thể hiểu được tại sao một nhóm đàn bà sẵn sàng dùng của cải họ để giúp ngài.—Lu-ca 8:3.

      16. Điều gì cho thấy Chúa Giê-su có một quan điểm thăng bằng về đời sống và vật chất?

      16 Chúa Giê-su có một quan điểm thăng bằng về đời sống. Vật chất không phải là điều quan trọng nhất đối với ngài. Dường như ngài có rất ít về mặt vật chất. Ngài nói rằng ngài “không có chỗ mà gối đầu”. (Ma-thi-ơ 8:20) Đồng thời, Chúa Giê-su giúp người khác vui thêm. Khi dự một tiệc cưới—một dịp vui thường có âm nhạc và ca hát—thì rõ ràng là ngài không đến đó để làm người ta mất vui. Thật ra, Chúa Giê-su làm phép lạ lần đầu tiên ở đó. Khi hết rượu, ngài biến nước thành rượu ngon, một thức uống “khiến hứng chí loài người”. (Thi-thiên 104:15; Giăng 2:1-11) Nhờ đó, tiệc cưới có thể tiếp tục, và cô dâu, chú rể chắc chắn không bị ngượng. Tính thăng bằng của ngài được phản ánh rõ hơn nữa qua sự kiện có rất nhiều dịp khác được đề cập khi Chúa Giê-su làm việc khó nhọc suốt ngày trong thánh chức.—Giăng 4:34.

      17. Tại sao việc Chúa Giê-su là một bậc Thầy Lỗi Lạc không phải là điều đáng ngạc nhiên, và những lời dạy dỗ của ngài phản ánh điều gì?

      17 Chúa Giê-su là một bậc Thầy Lỗi Lạc. Phần lớn những điều ngài dạy phản ánh hiện thực cuộc sống hàng ngày mà ngài rất quen thuộc. (Ma-thi-ơ 13:33; Lu-ca 15:8) Cách ngài dạy không ai sánh được—luôn luôn rõ ràng, đơn giản và thực tế. Còn quan trọng hơn nữa là điều ngài dạy. Điều ngài dạy phản ánh lòng chân thành mong muốn giúp người nghe quen thuộc với ý nghĩ, tình cảm và đường lối của Đức Giê-hô-va.—Giăng 17:6-8.

      18, 19. (a) Chúa Giê-su miêu tả Cha ngài bằng những lời tượng hình sinh động nào? (b) Điều gì sẽ được bàn luận trong bài tới?

      18 Thường dùng minh họa, Chúa Giê-su tiết lộ về Cha ngài bằng những lời tượng hình sinh động khó quên được. Nói khái quát về lòng thương xót của Đức Chúa Trời là một việc. Nhưng ví Đức Giê-hô-va như một người cha rộng lượng rất xúc động khi thấy con mình trở về đến độ ông ‘chạy ra ôm lấy cổ con mà hôn’ thì lại là một việc khác. (Lu-ca 15:11-24) Bác bỏ một nền văn hóa cứng nhắc, trong đó những người lãnh đạo tôn giáo khinh khi dân thường, Chúa Giê-su giải thích rằng Cha ngài là một Đức Chúa Trời dễ đến gần, là Đấng ưa lời cầu xin của một người thâu thuế khiêm nhường hơn là lời cầu nguyện phô trương của một người Pha-ri-si khoe khoang. (Lu-ca 18:9-14) Chúa Giê-su miêu tả Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời quan tâm, biết cả khi nào một con chim sẻ bé tí rơi xuống đất. Chúa Giê-su trấn an môn đồ: “Đừng sợ chi hết, vì các ngươi quí-trọng hơn nhiều con chim sẻ”. (Ma-thi-ơ 10:29, 31) Cho nên chúng ta có thể hiểu được tại sao người ta kinh ngạc về “giáo huấn” của Chúa Giê-su và họ tìm đến nghe ngài. (Ma-thi-ơ 7:28, 29, Nguyễn Thế Thuấn) Vào một dịp nọ, “một đoàn dân đông” ở lại bên ngài ba ngày, cho dù không có đồ ăn!—Mác 8:1, 2.

      19 Chúng ta có thể biết ơn là qua Lời Ngài, Đức Giê-hô-va tiết lộ ý của Đấng Christ! Thế nhưng làm thế nào chúng ta có thể vun trồng và biểu lộ ý của Đấng Christ khi đối xử với người khác? Điều này sẽ được bàn luận trong bài tới.

      [Chú thích]

      a Khải-huyền 12:3, 4 cho thấy sự kết hợp có thể ảnh hưởng đến tạo vật thần linh. Trong câu đó, Sa-tan được miêu tả là “con rồng” có thể dùng ảnh hưởng của mình để kéo “các ngôi sao”, tức những người con thần linh, đi theo đường lối phản nghịch của hắn.—So sánh Gióp 38:7.

      b Lần cuối cùng Giô-sép được trực tiếp nhắc đến là khi Chúa Giê-su 12 tuổi được tìm thấy trong đền thờ. Kinh Thánh không nói Giô-sép có mặt tại tiệc cưới ở Ca-na, khi Chúa Giê-su bắt đầu làm thánh chức. (Giăng 2:1-3) Vào năm 33 CN, Chúa Giê-su lúc bị đóng đinh đã giao Ma-ri cho sứ đồ yêu dấu là Giăng chăm sóc. Ngài có thể đã không làm điều đó nếu Giô-sép vẫn còn sống.—Giăng 19:26, 27.

  • Bạn có “ý của Đấng Christ” không?
    Tháp Canh—2000 | 15 tháng 2
    • Bạn có “ý của Đấng Christ” không?

      “Nguyện Đức Chúa Trời của sự nhẫn-nại và sự yên-ủi ban cho anh em đồng tâm-chí... y theo Christ-Jêsus”.—RÔ-MA 15:5, GHI-ĐÊ-ÔN.

      1. Chúa Giê-su được miêu tả như thế nào trong nhiều tranh vẽ của tôn giáo tự xưng theo Đấng Christ, và tại sao sự miêu tả này về Chúa Giê-su không trung thực?

      “KHÔNG ai đã từng thấy ngài cười bao giờ”. Chúa Giê-su đã được miêu tả như thế trong một tài liệu mạo nhận là do một viên chức La Mã ngày xưa viết. Người ta nói rằng tài liệu này, như được biết dưới dạng hiện nay từ khoảng thế kỷ 11, đã ảnh hưởng nhiều họa sĩ.a Trong một số tranh vẽ, Chúa Giê-su trông có vẻ buồn rầu, nếu có thì cũng rất hiếm khi cười. Nhưng đó chắc chắn không phải là sự miêu tả trung thực về Chúa Giê-su, người mà các sách Phúc Âm tả là nhân từ, nồng hậu, có tình cảm sâu sắc.

      2. Làm thế nào chúng ta có thể vun trồng “đồng tâm-chí... y theo Christ-Jêsus”, và điều này sẽ trang bị chúng ta làm gì?

      2 Rõ ràng, muốn biết Chúa Giê-su thật, trong lòng và trí, chúng ta phải hiểu biết chính xác Chúa Giê-su thật sự là người như thế nào khi ở trên đất. Vậy chúng ta hãy xem xét vài lời tường thuật của sách Phúc Âm để hiểu rõ “ý của Đấng Christ”—tức là cảm xúc, nhận thức, ý nghĩ và cách lập luận của ngài. (1 Cô-rinh-tô 2:16) Khi thảo luận, chúng ta hãy suy xét xem mình có thể vun trồng “đồng tâm-chí... y theo Christ-Jêsus” như thế nào. (Rô-ma 15:5, Ghi) Nhờ đó, chúng ta có thể được trang bị tốt hơn trong đời sống và trong cách cư xử với người khác để noi theo gương mà ngài đã nêu ra cho chúng ta.—Giăng 13:15.

      Dễ đến gần

      3, 4. (a) Bối cảnh của lời tường thuật ghi nơi Mác 10:13-16 là gì? (b) Chúa Giê-su đã phản ứng như thế nào khi các môn đồ cố ngăn cản không cho trẻ con đến với ngài?

      3 Người ta thích đến với Chúa Giê-su. Có nhiều lần, người thuộc các lứa tuổi và quá trình khác nhau tự động đến với ngài. Hãy xem sự kiện ghi nơi Mác 10:13-16. Việc này xảy ra lúc gần cuối thánh chức của ngài khi ngài trên đường đi đến Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng, để chịu chết một cách đau đớn.—Mác 10:32-34.

      4 Hãy hình dung cảnh tượng đó. Người ta bắt đầu đem con cái, cả em bé, đến để Chúa Giê-su ban phước.b Tuy nhiên, các môn đồ tìm cách ngăn cản không cho trẻ con đến gần Chúa Giê-su. Có lẽ các môn đồ nghĩ Chúa Giê-su chắc hẳn không muốn bị trẻ con làm phiền trong những tuần lễ trọng đại này. Nhưng họ nghĩ sai. Chúa Giê-su không hài lòng khi biết được các môn đồ đang làm gì. Chúa Giê-su kêu trẻ con đến với ngài và nói rằng: “Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng cấm chúng nó”. (Mác 10:14) Rồi ngài làm một điều cho thấy ngài rất dịu dàng và thương yêu thật sự. Lời tường thuật nói: “Ngài lại bồng những đứa trẻ ấy, đặt tay trên chúng nó mà chúc phước cho”. (Mác 10:16) Trẻ con rõ ràng thấy tự nhiên, thoải mái khi Chúa Giê-su ôm chúng trong cánh tay trìu mến.

      5. Lời tường thuật nơi Mác 10:13-16 cho chúng ta biết gì về Chúa Giê-su?

      5 Lời tường thuật vắn tắt đó cho chúng ta biết rất nhiều về nhân cách Chúa Giê-su. Hãy lưu ý là ngài dễ đến gần. Mặc dù từng có địa vị cao quý ở trên trời, ngài không coi thường những người bất toàn mà cũng không làm họ sợ. (Giăng 17:5) Ngay cả trẻ con cũng cảm thấy thoải mái ở gần ngài; chẳng phải điều đó cũng đáng chú ý hay sao? Chắc chắn chúng hẳn không cảm thấy muốn đến gần một người lạnh lùng, buồn rầu, không bao giờ mỉm cười hoặc cười rộ! Người ở mọi lứa tuổi đến với Chúa Giê-su vì họ cảm thấy ngài là một người nồng hậu, ân cần, và họ tin chắc ngài sẽ không từ chối tiếp họ.

      6. Làm thế nào trưởng lão có thể trở nên dễ đến gần hơn?

      6 Suy nghĩ về lời tường thuật này, chúng ta có thể tự hỏi: ‘Tôi có ý của Đấng Christ không? Tôi có dễ đến gần không?’ Trong thời kỳ khó khăn này, chiên của Đức Chúa Trời cần những người chăn chiên dễ đến gần, những người được ví như “nơi núp gió”. (Ê-sai 32:1, 2; 2 Ti-mô-thê 3:1) Hỡi các trưởng lão, nếu các anh vun trồng lòng quan tâm chân thành đối với anh em và sẵn sàng bỏ công sức giúp họ thì họ sẽ cảm nhận được sự quan tâm của các anh. Họ sẽ thấy điều đó qua nét mặt, nghe qua giọng nói và nhận thấy qua cử chỉ ân cần của các anh. Lòng nhiệt tình và quan tâm chân thật như thế có thể tạo một bầu không khí tin cậy, khiến người khác, kể cả trẻ em, dễ đến gần các anh hơn. Một nữ tín đồ Đấng Christ giải thích tại sao chị có thể nói chuyện cởi mở với một anh trưởng lão: “Anh ấy nói với tôi một cách dịu dàng và thương xót. Nếu không, tôi có lẽ không nói lấy một lời. Anh làm tôi cảm thấy an toàn”.

      Quan tâm đến người khác

      7. (a) Chúa Giê-su cho thấy ngài quan tâm đến người khác như thế nào? (b) Có thể vì lý do nào mà Chúa Giê-su làm cho một người mù nọ dần dần sáng mắt lại?

      7 Chúa Giê-su quan tâm đến người khác. Ngài nhạy cảm với cảm xúc của người khác. Chỉ cần nhìn thấy người ta đau khổ, ngài cũng vô cùng xúc động mà cứu chữa họ. (Ma-thi-ơ 14:14) Ngài cũng quan tâm đến giới hạn và nhu cầu của người khác. (Giăng 16:12) Có lần người ta đem đến cho ngài một người mù và nài xin ngài cứu chữa. Chúa Giê-su làm cho người đó sáng mắt lại, nhưng một cách dần dần. Lúc đầu, người đó chỉ thấy người ta một cách lờ mờ—“họ đi giống như cây”. Rồi Chúa Giê-su làm ông ta sáng mắt lại hoàn toàn. Tại sao ngài lại chữa người đó một cách dần dần? Việc này rất có thể là để giúp một người đã quá quen bóng tối thích nghi với sự thay đổi khi đột ngột thấy một thế giới phức tạp và chan hòa ánh nắng.—Mác 8:22-26.

      8, 9. (a) Việc gì xảy ra chẳng bao lâu sau khi Chúa Giê-su và môn đồ đi vào vùng Đê-ca-bô-lơ? (b) Hãy miêu tả việc Chúa Giê-su chữa lành người điếc.

      8 Cũng hãy xem xét một việc xảy ra sau ngày Lễ Vượt Qua năm 32 CN. Chúa Giê-su và môn đồ đi vào vùng Đê-ca-bô-lơ, phía đông Biển Ga-li-lê. Chẳng bao lâu đám người đông đảo tìm thấy họ nơi đó và đem đến cho Chúa Giê-su nhiều người bệnh và tàn tật, và ngài chữa cho họ. (Ma-thi-ơ 15:29, 30) Điều đáng chú ý là Chúa Giê-su lưu tâm đến một người. Mác, người viết Phúc Âm và người duy nhất ghi lại việc này, tường thuật việc xảy ra.—Mác 7:31-35.

      9 Người đó điếc và hầu như không nói được. Chúa Giê-su có lẽ thấy ông này ngượng nghịu hoặc lúng túng. Rồi Chúa Giê-su làm một điều khác thường. Ngài đem riêng người đó ra, cách xa đám đông. Rồi Chúa Giê-su dùng vài dấu hiệu cho người đó biết ngài sắp làm gì. Ngài “để ngón tay vào lỗ tai người, và thấm nước miếng xức lưỡi người”. (Mác 7:33) Kế đến, Chúa Giê-su ngước mắt lên trời và thở ra sau khi cầu nguyện. Những hành động này như nói với người đó: ‘Điều ta sắp làm cho ngươi là nhờ quyền phép Đức Chúa Trời’. Cuối cùng, Chúa Giê-su nói: “Hãy mở ra!” (Mác 7:34) Lập tức tai người đó nghe được, và ông có thể nói bình thường.

      10, 11. Làm thế nào chúng ta có thể tỏ lòng quan tâm đến cảm nghĩ của người khác trong hội thánh? trong gia đình?

      10 Chúa Giê-su tỏ lòng quan tâm thật chu đáo đối với người khác! Ngài nhạy cảm với cảm xúc của họ, và lòng quan tâm thông cảm này thúc đẩy ngài hành động theo cách không làm buồn lòng họ. Là tín đồ Đấng Christ, chúng ta nên vun trồng và biểu lộ ý của Đấng Christ về phương diện này. Kinh Thánh khuyên nhủ chúng ta: “Hết thảy anh em phải đồng lòng đầy thương-xót và tình yêu anh em, có lòng nhân-từ và đức khiêm-nhượng”. (1 Phi-e-rơ 3:8) Điều này chắc chắn đòi hỏi chúng ta, khi nói và hành động, phải lưu ý đến cảm nghĩ của người khác.

      11 Trong hội thánh, chúng ta có thể tỏ lòng quan tâm đến cảm nghĩ của người khác bằng cách tôn trọng phẩm cách họ, đối xử với họ như chúng ta muốn được đối xử. (Ma-thi-ơ 7:12) Điều đó bao hàm việc thận trọng trong lời nói cũng như cách nói. (Cô-lô-se 4:6) Hãy nhớ rằng “lời vô độ đâm-xoi khác nào gươm”. (Châm-ngôn 12:18) Còn trong gia đình thì sao? Vợ chồng nào thật sự yêu thương nhau thì nhạy cảm về cảm nghĩ của nhau. (Ê-phê-sô 5:33) Họ tránh những lời gay gắt, luôn chỉ trích và mỉa mai đay nghiến—tất cả những điều này có thể làm tổn thương mà không dễ gì hàn gắn. Con cái cũng có cảm xúc, và cha mẹ yêu thương lưu ý đến điều này. Khi cần sửa trị con cái, các bậc cha mẹ như thế tôn trọng nhân phẩm của chúng và không làm chúng xấu hổ một cách không cần thiết.c (Cô-lô-se 3:21) Khi tỏ lòng quan tâm như thế đối với người khác, chúng ta cho thấy mình có ý của Đấng Christ.

      Sẵn sàng tin cậy người khác

      12. Chúa Giê-su có quan điểm thăng bằng, thực tế nào về môn đồ ngài?

      12 Chúa Giê-su có quan điểm thăng bằng và thực tế về môn đồ ngài. Ngài biết rõ họ không hoàn toàn. Xét cho cùng, ngài có thể biết được lòng người. (Giăng 2:24, 25) Ngay dù thế, ngài không chỉ nhận thấy những khuyết điểm của họ mà cả những đức tính tốt của họ nữa. Ngài cũng thấy tiềm năng nơi những người mà Đức Giê-hô-va đã kéo đến. (Giăng 6:44) Quan điểm tích cực của Chúa Giê-su về môn đồ ngài thể hiện qua cách ngài cư xử và đối đãi với họ. Trước hết là ngài tỏ ra sẵn sàng tin cậy họ.

      13. Chúa Giê-su cho thấy ngài tin cậy các môn đồ như thế nào?

      13 Chúa Giê-su biểu lộ lòng tin cậy đó như thế nào? Khi rời trái đất, ngài ủy thác một trách nhiệm nặng nề cho các môn đồ được xức dầu của ngài. Ngài đặt trong tay họ trách nhiệm chăm sóc quyền lợi của Nước ngài trên khắp thế giới. (Ma-thi-ơ 25:14, 15; Lu-ca 12:42-44) Trong thời gian làm thánh chức, ngài cho thấy qua cả cách nho nhỏ, gián tiếp là ngài tin cậy họ. Khi làm đồ ăn gia tăng bằng phép lạ để cho đám đông ăn, ngài giao cho môn đồ trách nhiệm phân phát thức ăn.—Ma-thi-ơ 14:15-21; 15:32-37.

      14. Bạn tóm tắt lời tường thuật ghi nơi Mác 4:35-41 như thế nào?

      14 Cũng hãy xem lời tường thuật ghi nơi Mác 4:35-41. Vào dịp này, Chúa Giê-su và môn đồ lên thuyền đi về phía đông băng qua Biển Ga-li-lê. Ít lâu sau khi rời bờ, Chúa Giê-su nằm xuống nơi phía sau thuyền và ngủ thiếp đi. Nhưng chẳng bao lâu, “có cơn bão lớn nổi lên”. Những cơn bão như thế không phải là hiếm thấy trên Biển Ga-li-lê. Vì vùng này rất thấp (thấp hơn mặt biển khoảng 200 mét), không khí ở đó ấm hơn nhiều so với vùng xung quanh, vì thế gây ra sự xáo trộn không khí. Thêm vào đó, những luồng gió mạnh thổi xuống Thung Lũng Giô-đanh từ Núi Hẹt-môn, nằm ở phía bắc. Biển đang lặng sóng có thể thình lình chuyển sang dông bão dữ dội. Hãy nghĩ về điều này: Chúa Giê-su chắc chắn biết là thường có bão, vì ngài lớn lên ở Ga-li-lê. Thế nhưng, ngài ngủ yên, tin ở kỹ năng của môn đồ mà một số là người đánh cá.—Ma-thi-ơ 4:18, 19.

      15. Chúng ta có thể noi theo việc Chúa Giê-su sẵn sàng tin cậy môn đồ ngài như thế nào?

      15 Chúng ta có thể noi theo việc Chúa Giê-su sẵn sàng tin cậy môn đồ không? Một số người thấy khó giao phó trách nhiệm cho người khác. Có thể nói là họ phải luôn luôn cầm đầu. Họ có thể nghĩ: ‘Nếu muốn việc gì làm cho đúng thì tôi phải tự làm!’ Nhưng nếu phải tự làm mọi việc, chúng ta ở vào nguy cơ bị kiệt sức và có lẽ phải dùng thì giờ đáng lẽ dành cho gia đình. Ngoài ra, nếu không giao phó những công việc và trách nhiệm thích hợp cho người khác, chúng ta có thể làm họ mất cơ hội có được kinh nghiệm và sự huấn luyện cần thiết. Điều khôn ngoan là tập tin cậy người khác, giao phó việc cho họ. Chúng ta nên thành thật tự hỏi: ‘Tôi có ý của Đấng Christ về vấn đề này không? Tôi có sẵn sàng giao phó những việc nào đó cho người khác, tin rằng họ sẽ làm hết sức mình không?’

      Ngài biểu lộ lòng tin nơi môn đồ

      16, 17. Vào đêm cuối của cuộc đời trên đất, Chúa Giê-su đã trấn an các sứ đồ về điều gì dù ngài biết họ sẽ bỏ ngài?

      16 Chúa Giê-su biểu lộ một quan điểm tích cực về môn đồ qua một cách quan trọng khác nữa. Ngài cho họ biết là ngài tin tưởng nơi họ. Chúng ta thấy rõ điều này qua lời ngài trấn an các sứ đồ vào đêm cuối của cuộc đời ngài trên đất. Hãy để ý việc gì xảy ra.

      17 Đó là một buổi tối mà Chúa Giê-su rất bận rộn. Ngài dạy các sứ đồ một bài học thực tế về sự khiêm nhường bằng cách rửa chân họ. Sau đó, ngài thiết lập bữa ăn tối sau này sẽ là lễ tưởng niệm sự chết của ngài. Thế rồi, các sứ đồ lại tranh luận dữ dội xem ai có vẻ lớn nhất. Luôn luôn kiên nhẫn, Chúa Giê-su không quở mắng họ mà lý luận với họ. Ngài nói với họ điều sẽ xảy ra: “Đêm nay các ngươi sẽ đều vấp-phạm vì cớ ta, như có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì chiên trong bầy sẽ bị tan-lạc”. (Ma-thi-ơ 26:31; Xa-cha-ri 13:7) Ngài biết rằng những người bạn thân thiết nhất sẽ bỏ ngài lúc ngài cần đến họ. Thế nhưng, ngài vẫn không lên án họ. Ngược lại, ngài bảo họ: “Song sau khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi”. (Ma-thi-ơ 26:32) Đúng vậy, ngài bảo đảm với họ rằng dù họ sẽ bỏ ngài nhưng ngài vẫn không bỏ họ. Khi thử thách gay go này qua khỏi, ngài sẽ gặp lại họ.

      18. Tại Ga-li-lê, Chúa Giê-su đã giao cho môn đồ sứ mệnh trọng đại nào, và các sứ đồ thực thi điều đó như thế nào?

      18 Chúa Giê-su đã giữ lời. Sau đó, tại Ga-li-lê, Chúa Giê-su phục sinh đã hiện ra trước 11 sứ đồ trung thành; họ hiển nhiên đã tập hợp lại với nhiều người khác. (Ma-thi-ơ 28:16, 17; 1 Cô-rinh-tô 15:6) Ở đó, Chúa Giê-su giao cho họ một sứ mệnh trọng đại: “Vậy, hãy đi dạy-dỗ muôn-dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh-Linh mà làm phép báp-têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi”. (Ma-thi-ơ 28:19, 20) Sách Công-vụ các Sứ-đồ cho chúng ta bằng chứng rõ ràng là các sứ đồ đã thực thi sứ mệnh đó. Họ trung thành dẫn đầu công việc rao giảng tin mừng trong thế kỷ thứ nhất—Công-vụ các Sứ-đồ 2:41, 42; 4:33; 5:27-32.

      19. Hành động của Chúa Giê-su sau khi ngài sống lại dạy chúng ta điều gì về ý của Đấng Christ?

      19 Lời tường thuật sâu sắc này dạy chúng ta điều gì về ý của Đấng Christ? Chúa Giê-su thấy tính xấu nhất của các sứ đồ, nhưng ngài ‘cứ yêu họ cho đến cuối-cùng’. (Giăng 13:1) Mặc dù họ có khuyết điểm, ngài vẫn cho họ biết là ngài tin nơi họ. Hãy để ý là Chúa Giê-su đã không tin cậy sai chỗ. Lòng tin cậy và tin tưởng mà ngài đã biểu lộ nơi họ chắc chắn củng cố tinh thần họ để họ quyết tâm thi hành công việc ngài truyền bảo họ làm.

      20, 21. Chúng ta có thể biểu lộ quan điểm tích cực về các anh em đồng đức tin như thế nào?

      20 Chúng ta có thể biểu lộ ý của Đấng Christ về phương diện này như thế nào? Chớ bi quan về các anh em đồng đức tin. Nếu bạn nghĩ đến cái xấu nhất, thì lời nói và hành động của bạn có thể sẽ cho thấy cảm nghĩ đó. (Lu-ca 6:45) Tuy nhiên, Kinh Thánh nói với chúng ta rằng tình yêu thương “tin mọi sự”. (1 Cô-rinh-tô 13:7) Tình yêu thương thì tích cực chứ không tiêu cực. Nó xây dựng chứ không đánh đổ. Người ta sẵn sàng đáp lại tình yêu thương và sự khích lệ hơn là sự dọa dẫm. Chúng ta có thể xây dựng và khích lệ người khác bằng cách bày tỏ lòng tin cậy nơi họ. (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:11) Nếu, giống như Đấng Christ, chúng ta có quan điểm tích cực về anh em, chúng ta sẽ đối xử với họ theo cách xây dựng họ và khuyến khích họ biểu lộ những đức tính tốt.

      21 Vun trồng và biểu lộ ý của Đấng Christ có ý nghĩa sâu sắc hơn là chỉ bắt chước những điều gì đó Chúa Giê-su làm. Như được đề cập trong bài trước, nếu thật sự muốn hành động như Chúa Giê-su, trước tiên chúng ta phải học tập nhìn vấn đề theo quan điểm của ngài. Các sách Phúc Âm giúp chúng ta thấy được khía cạnh khác của nhân cách ngài, tức ý nghĩ và tình cảm của ngài về công việc ngài được giao phó, như bài tới sẽ thảo luận.

      [Chú thích]

      a Trong tài liệu này, kẻ giả mạo miêu tả ngoại diện được cho là của Chúa Giê-su, kể cả màu tóc, râu và mắt. Dịch giả Kinh Thánh Edgar J. Goodspeed giải thích rằng tài liệu giả mạo này “nhằm xác nhận sự miêu tả ngoại diện Chúa Giê-su trong các sổ tay của họa sĩ”.

      b Rõ ràng những đứa trẻ này ở những tuổi khác nhau. Từ ở đây dịch là “con trẻ” cũng được dùng nói đến đứa con gái 12 tuổi của Giai-ru. (Mác 5:39, 42; 10:13) Tuy nhiên, khi tường thuật cùng câu chuyện này, Lu-ca dùng một từ mà cũng được dùng để chỉ em bé.—Lu-ca 1:41; 2:12; 18:15.

      c Xin xem bài “Bạn có tôn trọng phẩm giá của họ không?” trong Tháp Canh, ngày 1-4-1998.

  • Bạn có được thúc đẩy để hành động giống như Chúa Giê-su không?
    Tháp Canh—2000 | 15 tháng 2
    • Bạn có được thúc đẩy để hành động giống như Chúa Giê-su không?

      “Đức Chúa Jêsus... thấy đoàn dân đông lắm, thì Ngài động lòng thương-xót đến, vì như chiên không có người chăn; Ngài bèn khởi-sự dạy-dỗ họ”—MÁC 6:34.

      1. Tại sao việc người ta biểu lộ những đức tính đáng khâm phục là điều dễ hiểu?

      TRONG suốt lịch sử, nhiều người đã biểu lộ những đức tính đáng khâm phục. Bạn có thể hiểu được tại sao. Giê-hô-va Đức Chúa Trời có tình yêu thương, lòng nhân từ, rộng rãi và những đức tính khác mà chúng ta quý trọng, và Ngài biểu lộ những đức tính này. Loài người được tạo ra theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Vì thế chúng ta có thể hiểu được tại sao nhiều người biểu lộ một mức độ yêu thương, nhân từ, thương xót và những thiên tính khác, cũng như phần đông cho thấy họ có lương tâm. (Sáng-thế Ký 1:26; Rô-ma 2:14, 15) Tuy nhiên, bạn có thể nhận thấy rằng một số người biểu lộ những đức tính này dễ dàng hơn người khác.

      2. Người ta có thể làm một số việc thiện nào, có lẽ cảm thấy họ đang noi gương Đấng Christ?

      2 Có lẽ bạn quen biết những người đàn ông và đàn bà thường thăm viếng hoặc giúp đỡ người bệnh, tỏ lòng thương xót đối với người tật nguyền, hoặc giúp người nghèo một cách rộng rãi. Cũng hãy nghĩ đến những người vì lòng thương xót dùng đời sống mình làm việc trong khu người bị bệnh phong hoặc trại mồ côi, những người tình nguyện làm trong nhà thương hoặc viện dành cho bệnh nhân sắp chết, hoặc những người cố gắng giúp người không nhà cửa hoặc người tị nạn. Có thể một số người này cảm thấy họ đang noi theo Chúa Giê-su, đấng nêu gương cho tín đồ Đấng Christ. Chúng ta đọc trong Phúc Âm là Đấng Christ chữa lành người bệnh và cho người đói ăn. (Mác 1:34; 8:1-9; Lu-ca 4:40) Những việc làm yêu thương, ân cần và thương xót của Chúa Giê-su là sự biểu hiện “ý của Đấng Christ”, đấng noi gương Cha trên trời của ngài.—1 Cô-rinh-tô 2:16.

      3. Để có quan điểm thăng bằng về những việc thiện Chúa Giê-su làm, chúng ta cần xem xét điều gì?

      3 Tuy nhiên, bạn có nhận xét là ngày nay nhiều người cảm kích trước tình yêu thương và lòng thương xót của Chúa Giê-su nhưng lại không để ý đến một điểm then chốt về ý của Đấng Christ không? Chúng ta có thể hiểu thấu điều này bằng cách xem xét kỹ Mác chương 6. Nơi đó chúng ta đọc thấy là người ta đem người bệnh đến cho Chúa Giê-su chữa. Trong bối cảnh ấy, chúng ta cũng biết là khi thấy hàng ngàn người đến với ngài bấy giờ đã đói, Chúa Giê-su cho họ ăn bằng phép lạ. (Mác 6:35-44, 54-56) Chữa lành người bệnh và cho người đói ăn là sự biểu lộ nổi bật về lòng trắc ẩn đầy yêu thương, nhưng đó có phải là cách chính mà Chúa Giê-su giúp người khác không? Và bằng cách tốt nhất nào chúng ta có thể noi gương tuyệt hảo của ngài về tình yêu thương, lòng nhân từ và thương xót, y như ngài noi gương Đức Giê-hô-va?

      Được thúc đẩy để đáp ứng nhu cầu thiêng liêng

      4. Bối cảnh của lời tường thuật nơi Mác 6:30-34 là gì?

      4 Chúa Giê-su thương xót những người xung quanh ngài chủ yếu vì nhu cầu thiêng liêng của họ. Nhu cầu đó là quan trọng nhất, hơn cả nhu cầu thể chất. Hãy xem lời tường thuật nơi Mác 6:30-34. Sự kiện ghi lại ở đó xảy ra trên bờ Biển Ga-li-lê, gần ngày Lễ Vượt Qua năm 32 CN. Các sứ đồ rất phấn khích, và vì lý do chính đáng. Vừa hoàn tất một chuyến đi nhiều nơi, họ đến gặp Chúa Giê-su, chắc hẳn háo hức muốn kể cho ngài nghe kinh nghiệm của họ. Tuy nhiên, đám đông tụ tập lại. Người ta đến đông quá, nên Chúa Giê-su và các sứ đồ không thể ăn uống hoặc nghỉ ngơi được. Chúa Giê-su bảo các sứ đồ: “Hãy đi tẻ ra trong nơi vắng-vẻ, nghỉ-ngơi một chút”. (Mác 6:31) Xuống một chiếc thuyền, có lẽ gần Ca-bê-na-um, họ băng qua Biển Ga-li-lê để đi đến một nơi yên tịnh. Nhưng đám đông chạy dọc theo bờ và đến đó trước thuyền. Chúa Giê-su phản ứng ra sao? Ngài có bực bội vì bị quấy rầy không? Hoàn toàn không!

      5. Chúa Giê-su cảm thấy thế nào về đám đông đến với ngài, và ngài làm gì cho họ?

      5 Chúa Giê-su xúc động trước cảnh đám đông hàng ngàn người này, kể cả người bệnh, háo hức chờ đợi ngài. (Ma-thi-ơ 14:14; Mác 6:44) Tập trung vào điều khiến Chúa Giê-su động lòng thương xót và cách ngài phản ứng, Mác viết: “Chúa Jêsus... thấy đoàn dân đông lắm, thì Ngài động lòng thương-xót đến, vì như chiên không có người chăn; Ngài bèn khởi-sự dạy-dỗ họ nhiều điều”. (Mác 6:34) Chúa Giê-su không chỉ thấy một đám đông quần chúng. Ngài còn thấy những người có nhu cầu thiêng liêng. Họ giống như chiên lạc lõng không nơi nương tựa, không có người chăn bảo vệ họ hoặc dẫn đến đồng cỏ xanh tươi. Chúa Giê-su biết rằng những người lãnh đạo tôn giáo hờ hững, đáng lẽ phải là những người chăn ân cần, nhưng lại coi khinh dân thường và thờ ơ với nhu cầu thiêng liêng của họ. (Ê-xê-chi-ên 34:2-4; Giăng 7:47-49) Chúa Giê-su đối xử với họ một cách khác, làm điều tốt lành nhất cho họ. Ngài bắt đầu dạy họ về Nước Đức Chúa Trời.

      6, 7. (a) Phúc Âm cho thấy điều gì là ưu tiên trong cách Chúa Giê-su đáp ứng nhu cầu của dân chúng? (b) Động cơ nào thúc đẩy Chúa Giê-su rao giảng và dạy dỗ?

      6 Hãy lưu ý một lời tường thuật tương tự cho thấy rõ thứ tự ưu tiên và điều gì quan trọng nhất. Lời này do Lu-ca viết; ông là một thầy thuốc và hết sức quan tâm đến sức khỏe thể chất của người khác. “Dân-chúng... đi theo Ngài. Đức Chúa Jêsus tiếp-đãi dân-chúng, giảng cho họ về nước Đức Chúa Trời, và chữa cho những kẻ cần được lành bịnh”. (Lu-ca 9:11, chúng tôi viết nghiêng; Cô-lô-se 4:14) Mặc dù không phải lời tường thuật nào về phép lạ cũng ghi giống như thế, nhưng trong trường hợp này, lời tường thuật được soi dẫn của Lu-ca ghi chép điều gì trước? Đó chính là sự kiện Chúa Giê-su dạy dỗ dân chúng.

      7 Điều này quả thật phù hợp với điểm được nhấn mạnh nơi Mác 6:34. Câu đó cho thấy rõ ràng động lực nào chủ yếu thúc đẩy Chúa Giê-su biểu lộ lòng thương xót. Ngài dạy dỗ dân chúng, đáp ứng nhu cầu thiêng liêng của họ. Trước đó, Chúa Giê-su nói: “Ta... phải rao Tin-lành của nước Đức Chúa Trời nơi các thành khác; vì cốt tại việc đó mà ta được sai đến”. (Lu-ca 4:43) Tuy nhiên, chúng ta lầm nếu nghĩ rằng Chúa Giê-su công bố thông điệp Nước Trời chỉ vì bổn phận, như thể ngài rao giảng một cách máy móc vì bắt buộc. Không phải vậy, lòng trắc ẩn đầy yêu thương đối với dân chúng là động cơ chính yếu thúc đẩy ngài chia sẻ tin mừng với họ. Điều tốt nhất mà Chúa Giê-su có thể làm—ngay cả cho người bệnh, người bị quỷ ám, người nghèo hoặc người đói khát—là giúp họ biết, chấp nhận và yêu mến lẽ thật về Nước Đức Chúa Trời. Lẽ thật đó là điều quan trọng nhất vì Nước Trời có vai trò lớn trong việc biện minh cho quyền thống trị của Đức Giê-hô-va và cung cấp ân phước vĩnh viễn cho loài người.

      8. Chúa Giê-su nghĩ thế nào về việc rao giảng và dạy dỗ?

      8 Việc Chúa Giê-su tích cực rao giảng về Nước Trời là lý do chính yếu tại sao ngài xuống đất. Gần cuối thánh chức ngài trên đất, Chúa Giê-su nói với Phi-lát: “Vì sao ta đã sanh và vì sao ta đã giáng-thế: Ấy là để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về lẽ thật thì nghe lấy tiếng ta”. (Giăng 18:37) Trong hai bài trước, chúng ta nhận thấy rằng Chúa Giê-su là một người có lòng nhân hậu—ân cần, dễ đến gần, quan tâm đến người khác, tin cậy và trên hết, yêu thương. Chúng ta cần hiểu rõ những khía cạnh đó về nhân cách ngài nếu chúng ta thật sự muốn hiểu ý của Đấng Christ. Điều quan trọng không kém là nhận thức rằng ý của Đấng Christ bao hàm sự kiện ngài đặt ưu tiên việc rao giảng và dạy dỗ.

      Ngài thúc giục người khác làm chứng

      9. Rao giảng và dạy dỗ là điều ưu tiên cho ai?

      9 Không phải chỉ Chúa Giê-su mới cần đặt ưu tiên việc rao giảng và dạy dỗ—như một cách biểu lộ tình yêu thương và lòng trắc ẩn. Ngài thúc giục môn đồ noi theo động cơ, thứ tự ưu tiên và hành động của ngài. Thí dụ, sau khi Chúa Giê-su chọn 12 sứ đồ, họ phải làm gì? Mác 3:14, 15 cho chúng ta biết: “Ngài... lập mười hai người, gọi là sứ-đồ, để ở cùng Ngài và sai đi giảng đạo, lại ban cho quyền-phép đuổi quỉ”. (Chúng tôi viết nghiêng) Bạn có thấy điều ưu tiên nào cho các sứ đồ không?

      10, 11. (a) Khi phái các sứ đồ đi, Chúa Giê-su bảo họ làm gì? (b) Trong việc phái các sứ đồ đi, điều gì là trọng tâm?

      10 Với thời gian, Chúa Giê-su ban cho 12 sứ đồ quyền phép chữa bệnh và đuổi quỷ. (Ma-thi-ơ 10:1; Lu-ca 9:1) Rồi ngài phái họ đi đến “những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên”. Để làm gì? Chúa Giê-su truyền bảo họ: “Khi đi đường, hãy rao-giảng rằng: Nước thiên-đàng gần rồi. Hãy chữa lành kẻ đau, khiến sống kẻ chết, làm sạch kẻ phung, và trừ các quỉ”. (Ma-thi-ơ 10:5-8; Lu-ca 9:2) Trên thực tế họ đã làm gì? “Vậy, các sứ-đồ đi ra, [1] giảng cho người ta phải ăn-năn; [2] đuổi nhiều ma-quỉ, xức dầu cho nhiều kẻ bịnh, và chữa cho được lành”.—Mác 6:12, 13.

      11 Vì không phải lúc nào sự dạy dỗ cũng được đề cập trước tiên, vậy việc lưu ý thứ tự ở trên có phải là gán quá nhiều ý nghĩa cho vấn đề ưu tiên hay động cơ liên quan không? (Lu-ca 10:1-9) Chúng ta không nên coi nhẹ sự kiện việc dạy dỗ thường được đề cập trước việc chữa lành. Hãy xem xét bối cảnh trong trường hợp này. Ngay trước khi phái 12 sứ đồ đi, Chúa Giê-su đã xúc động trước tình trạng của những đám dân đông. Chúng ta đọc: “Đức Chúa Jêsus đi khắp các thành, các làng, dạy-dỗ trong các nhà hội, giảng tin-lành nước Đức Chúa Trời, và chữa lành các thứ tật-bịnh. Khi Ngài thấy những đám dân đông, thì động lòng thương-xót, vì họ cùng-khốn, và tan-lạc như chiên không có kẻ chăn. Ngài bèn phán cùng môn-đồ rằng: Mùa gặt thì thật trúng, song con gặt thì ít. Vậy, hãy cầu-xin chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa mình”.—Ma-thi-ơ 9:35-38.

      12. Những phép lạ của Chúa Giê-su và các sứ đồ có thể thực hiện mục đích nào khác?

      12 Nhờ ở gần ngài, các sứ đồ có thể hấp thu phần nào ý của Đấng Christ. Họ có thể nhận thấy rằng khi họ thật sự yêu thương và có lòng trắc ẩn đối với người ta thì họ sẽ rao giảng và dạy dỗ về Nước Trời—đó phải là khía cạnh chính yếu của việc làm thiện. Phù hợp với điều đó, việc làm tốt lành về thể chất, như chữa lành người bệnh, không những đã giúp người túng thiếu mà còn thực hiện nhiều điều khác nữa. Như bạn có thể đoán, một số người có thể được thu hút bởi việc chữa lành bệnh và đồ ăn cung cấp bằng phép lạ. (Ma-thi-ơ 4:24, 25; 8:16; 9:32, 33; 14:35, 36; Giăng 6:26) Tuy nhiên, ngoài việc giúp về thể chất, những việc làm đó còn khiến những người quan sát nhận ra Chúa Giê-su là Con của Đức Chúa Trời và là “đấng tiên-tri” mà Môi-se đã báo trước.—Giăng 6:14; Phục-truyền Luật-lệ Ký 18:15.

      13. Lời tiên tri nơi Phục-truyền Luật-lệ Ký 18:18 nhấn mạnh vai trò nào cho “đấng tiên-tri” sẽ đến?

      13 Tại sao sự kiện Chúa Giê-su là “đấng tiên-tri” là điều đáng chú ý? Lời tiên tri nói gì về vai trò chính yếu của đấng đó? Có phải “đấng tiên-tri” đó sẽ nổi tiếng là chữa bệnh bằng phép lạ hoặc vì thương xót nên làm ra thức ăn cho người đói không? Phục-truyền Luật-lệ Ký 18:18 tiên tri: “Ta sẽ lập lên cho chúng một đấng tiên-tri như ngươi [Môi-se], thuộc trong anh em chúng, ta sẽ lấy các lời ta để trong miệng người, thì người sẽ nói cho chúng mọi điều ta phán dặn người”. Vậy khi các sứ đồ học tập có lòng nhân hậu và biểu lộ điều đó, họ có thể kết luận rằng ý của Đấng Christ cũng phải được thể hiện trong công việc rao giảng và dạy dỗ của họ. Đó là điều tốt nhất họ có thể làm cho người khác. Qua cách đó, người bệnh và người nghèo có thể được lợi ích vĩnh viễn, không chỉ những lợi ích giới hạn trong một đời người ngắn ngủi hoặc một hai bữa ăn mà thôi.—Giăng 6:26-30.

      Phát huy ý của Đấng Christ ngày nay

      14. Việc có ý của Đấng Christ liên quan thế nào đến việc rao giảng của chúng ta?

      14 Không ai trong chúng ta lại nghĩ rằng chỉ trong thế kỷ thứ nhất mới có ý của Đấng Christ—chỉ Chúa Giê-su và các môn đồ thời ban đầu mới có; và sứ đồ Phao-lô viết về các môn đồ này: “Phần chúng ta, thì có ý của Đấng Christ”. (1 Cô-rinh-tô 2:16) Và chúng ta sẵn sàng thừa nhận là mình có nghĩa vụ rao giảng tin mừng và đào tạo môn đồ. (Ma-thi-ơ 24:14; 28:19, 20) Song, chúng ta nên suy ngẫm về động cơ thúc đẩy mình làm công việc đó. Chúng ta không nên làm chỉ vì ý thức bổn phận. Lòng yêu thương đối với Đức Chúa Trời là lý do chính yếu tại sao chúng ta tham gia vào thánh chức, và muốn thật sự giống Chúa Giê-su thì lòng thương xót phải thúc đẩy chúng ta rao giảng và dạy dỗ.—Ma-thi-ơ 22:37-39.

      15. Tại sao lòng thương xót là một điều thích hợp trong thánh chức của chúng ta?

      15 Phải công nhận là không phải lúc nào cũng dễ cảm thấy thương xót những người không có cùng niềm tin với chúng ta, nhất là khi họ thờ ơ lãnh đạm, từ chối hoặc chống đối chúng ta. Tuy nhiên, nếu mất đi lòng yêu thương và lòng thương xót đối với người khác, chúng ta có thể mất đi một động cơ trọng yếu thúc đẩy chúng ta tham gia vào thánh chức tín đồ Đấng Christ. Vậy chúng ta có thể vun trồng lòng thương xót như thế nào? Chúng ta có thể cố gắng có cùng nhận thức với Chúa Giê-su về tình trạng của họ: họ bị “tan-lạc như chiên không có kẻ chăn”. (Ma-thi-ơ 9:36) Chẳng phải điều đó miêu tả nhiều người ngày nay hay sao? Họ đã bị những người chăn thuộc tôn giáo giả bỏ bê và làm mù quáng về thiêng liêng. Vì thế, họ không biết về sự hướng dẫn đúng đắn tìm thấy trong Kinh Thánh, cũng không biết về tình trạng Địa Đàng mà Nước Đức Chúa Trời sắp mang lại cho trái đất. Họ đương đầu với những vấn đề của đời sống hàng ngày—kể cả sự nghèo khó, sự bất hòa trong gia đình, bệnh tật và sự chết—mà không có hy vọng về Nước Trời. Chúng ta có điều họ cần: tin mừng cứu người là Nước Đức Chúa Trời nay đã được thành lập trên trời!

      16. Tại sao chúng ta muốn chia sẻ tin mừng với người khác?

      16 Khi bạn suy nghĩ như thế về nhu cầu thiêng liêng của những người xung quanh bạn, chẳng lẽ lòng bạn không thúc đẩy bạn muốn làm hết sức mình để cho họ biết về mục đích đầy yêu thương của Đức Chúa Trời hay sao? Đúng vậy, chúng ta làm việc này là vì lòng thương xót. Khi chúng ta đồng cảm với người khác như Chúa Giê-su đã làm, điều đó sẽ thể hiện qua giọng nói, nét mặt, cách dạy dỗ của chúng ta. Tất cả những điều đó sẽ khiến thông điệp chúng ta thu hút những người “có lòng ngay thẳng để được sống đời đời”.—Công-vụ các Sứ-đồ 13:48, NW.

      17. (a) Chúng ta có thể biểu lộ tình yêu thương và lòng trắc ẩn đối với người khác qua vài cách nào? (b) Tại sao vấn đề không phải là chọn hoặc làm việc thiện hoặc tham gia vào thánh chức?

      17 Tất nhiên chúng ta nên biểu lộ tình yêu thương và lòng trắc ẩn trong đời sống thường ngày. Điều này bao hàm việc đối xử nhân từ với người bị thiệt thòi, bệnh tật và nghèo khó—làm những gì chúng ta có thể làm một cách hợp lý để cứu giúp họ. Nó bao gồm việc chúng ta cố gắng bằng lời nói và việc làm để xua tan nỗi đau buồn của những người bị mất người thân. (Lu-ca 7:11-15; Giăng 11:33-35) Thế nhưng, những việc làm yêu thương, nhân từ và thương xót như thế không nên trở thành trọng tâm của các việc thiện của chúng ta, như quan niệm của một số người theo chủ nghĩa nhân đạo. Điều có tầm quan trọng lâu bền hơn nhiều là nỗ lực thúc đẩy bởi những thiên tính nói trên nhưng biểu lộ qua việc tham gia vào công việc rao giảng và dạy dỗ của tín đồ Đấng Christ. Hãy nhớ lại những gì Chúa Giê-su nói về những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái: “Các ngươi nộp một phần mười bạc-hà, hồi-hương, và rau cần, mà bỏ điều hệ-trọng hơn hết trong luật-pháp, là sự công-bình, thương-xót và trung-tín; đó là những điều các ngươi phải làm, mà cũng không nên bỏ sót những điều kia”. (Ma-thi-ơ 23:23) Đối với Chúa Giê-su, vấn đề không phải là chọn một trong hai—hoặc giúp người ta về nhu cầu thể chất hoặc dạy họ về vấn đề thiêng liêng đem lại sự sống. Chúa Giê-su làm cả hai. Thế nhưng, rõ ràng việc dạy dỗ của ngài là quan trọng nhất vì lợi ích mà ngài thực hiện qua việc đó có thể giúp đỡ người khác vĩnh viễn.—Giăng 20:16.

      18. Việc chúng ta xem xét ý của Đấng Christ nên thúc đẩy chúng ta làm gì?

      18 Chúng ta biết ơn xiết bao là Đức Giê-hô-va đã tiết lộ ý của Đấng Christ cho chúng ta biết! Qua Phúc Âm, chúng ta có thể biết rõ hơn ý nghĩ, tình cảm, đức tính, hoạt động và thứ tự ưu tiên của người vĩ đại nhất đã từng sống. Chính chúng ta phải đọc, suy ngẫm và thực hành những gì Kinh Thánh tiết lộ về Chúa Giê-su. Hãy nhớ rằng, nếu muốn thật sự hành động như Chúa Giê-su, trước tiên chúng ta phải học cách suy nghĩ, cảm xúc và đánh giá sự vật giống như ngài, bằng hết khả năng của người bất toàn. Vậy chúng ta hãy quyết tâm vun trồng và biểu lộ ý của Đấng Christ. Không có lối sống nào tốt hơn, không có cách nào tốt hơn để đối xử với người khác, và không có cách nào tốt hơn để chúng ta và người khác đến gần Đấng mà Chúa Giê-su phản ánh một cách hoàn hảo, là Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót của chúng ta, Đức Giê-hô-va.—2 Cô-rinh-tô 1:3; Hê-bơ-rơ 1:3.

  • Bạn có được thúc đẩy để hành động giống như Chúa Giê-su không?
    Tháp Canh—2000 | 15 tháng 2
    • [Trang hình ảnh nơi trang 23]

Ấn phẩm Tiếng Việt (1984-2026)
Đăng xuất
Đăng nhập
  • Việt
  • Chia sẻ
  • Tùy chỉnh
  • Copyright © 2026 Watch Tower Bible and Tract Society of Pennsylvania
  • Điều khoản sử dụng
  • Quyền riêng tư
  • Cài đặt quyền riêng tư
  • JW.ORG
  • Đăng nhập
Chia sẻ