Yêu thương Đức Giê-hô-va khích lệ sự thờ phượng thật
“Nầy là sự yêu-mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng-giữ điều-răn Ngài” (I GIĂNG 5:3).
1, 2. Chúng ta nên phụng sự Đức Giê-hô-va với động lực nào?
MỘT NHÓM 80 du khách từ Nhật Bản đi viếng thăm một Phòng Hội nghị của Nhân-chứng Giê-hô-va ở tiểu bang Ca Li, Hoa Kỳ. Chung quanh Phòng Hội nghị có quang cảnh tuyệt diệu với nào là chim cà cưởng xanh (blue jay; geai bleu), chim bồ câu và chim ruồi khiến cho họ càng cảm thấy gần gũi Giê-hô-va Đức Chúa Trời, Đấng Tạo hóa Vĩ đại nhiều hơn nữa. Chẳng bao lâu người hướng dẫn nhận ra rằng hầu hết mọi người trong nhóm đều đi rao giảng trọn thời gian tức làm người khai thác. Bởi vậy sau đó có người hỏi nhóm du khách câu này thường được đặt ra: “Tại sao ở Nhật có nhiều người khai thác như thế?” Trong khoảnh khắc không ai lên tiếng trả lời. Rồi một thiếu phụ tình nguyện đáp: “Bởi vì chúng tôi yêu thương Đức Giê-hô-va”.
2 Lòng yêu thương đối với Đức Giê-hô-va—đức tính này thúc đẩy chúng ta nhiệt thành phụng sự Ngài biết bao! Sự thật là không phải tất cả mọi người đều có thể làm khai thác. Thật thế, phần đông trong số bốn triệu người tuyên bố về Nước Trời không thể làm khai thác được. Tuy nhiên, nhiều người có hoàn cảnh thuận lợi cho phép làm công việc này. Còn những người khác thì cũng có thể “tin-cậy Đức Giê-hô-va, và làm điều lành” để rồi bày tỏ lòng yêu thương của chúng ta bằng cách tham gia vào công việc đào tạo môn đồ (Thi-thiên 37:3, 4). Ngoài ra, tất cả những ai đã dâng mình thờ phượng Đức Giê-hô-va có thể góp phần khuyến khích tinh thần khai thác và ủng hộ một cách đầy yêu thương những người đang làm khai thác (Ma-thi-ơ 24:14; 28:19).
3. Có sự khác biệt nào giữa phần đông những người tự xưng theo đấng Christ và Nhân-chứng Giê-hô-va?
3 Phần đông những người tự xưng theo đấng Christ ung dung xem tôn giáo như chỉ là phần phụ thuộc trong đời sống của họ. Ngược lại, Nhân-chứng Giê-hô-va chứng tỏ họ yêu thương Đức Chúa Trời của họ một cách đậm đà. Lòng yêu thương đó là một động lực thúc đẩy họ tiếp tục “trước hết, tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công-bình của Ngài”. Điều này đòi hỏi phải hy sinh, nhưng sự hy sinh đó thật xứng đáng thay! (Ma-thi-ơ 6:33; 16:24). Điều này phù hợp với điều răn thứ nhất và lớn nhất do Môi-se tuyên bố trước tiên và Giê-su Christ lặp lại sau này: “Chúa, Đức Chúa Trời chúng ta, là Chúa có một. Ngươi phải hết lòng, hết linh-hồn, hết trí-khôn, hết sức mà kính-mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi” (Mác 12:29, 30; Phục-truyền Luật-lệ Ký 6:4, 5).
4, 5. Những người nào được xem là trung thành, và chúng ta có thể bày tỏ sự trung thành thế nào?
4 Gần đây, một trong những nhân viên làm việc tại trụ sở trung ương của Nhân-chứng Giê-hô-va nói với anh F. W. Franz là chủ tịch của Hội Tháp Canh (Watch Tower Society) nay được 98 tuổi và đã phụng sự toàn thời gian trong hơn 70 năm nay: “Anh Franz ạ, anh là gương mẫu tốt về sự trung thành”. Anh Franz đáp: “Vâng, ai cũng phải trung thành cả”. Câu trả lời này tóm tắt trọn vẹn cả vấn đề. Bất luận chúng ta phụng sự trong lãnh vực nào của hoạt động về Nước Trời, chúng ta có thể trung thành (I Cô-rinh-tô 4:2; Ga-la-ti 3:9).
5 Đành rằng nhiều người ao ước làm nhiều hơn nữa để phụng sự Đức Giê-hô-va, nhưng có lẽ họ bị hạn chế phần nào vì các trách nhiệm do Kinh-thánh đặt ra hoặc các vấn đề về sức khỏe. Tuy nhiên, chúng ta không nên xem những ai không thể làm khai thác như là những người ít trung thành hơn. Một số người đã giữ sự trung thành trong những hoàn cảnh khốn khó nhất và lắm khi trong nhiều năm ròng rã. Đúng, họ là những người trung thành! Họ bày tỏ lòng yêu thương đối với Đức Giê-hô-va và siêng năng phụng sự, hết lòng ủng hộ các sự sắp đặt thần quyền của Ngài. Họ rất quan tâm đến hoạt động khai thác và khuyến khích những người có thể làm khai thác, thường là con cái của chính họ, để chúng cố gắng đạt mục tiêu là làm khai thác, xem đó như một sự nghiệp trổi hơn tất cả các sự nghiệp khác. (So sánh Phục-truyền Luật-lệ Ký 30:19, 20).
6, 7. Tiền lệ ghi ra nơi I Sa-mu-ên 30:16-25 áp dụng thế nào cho thời nay?
6 Lời tường thuật nơi I Sa-mu-ên 30:16-25 có thể là một thí dụ điển hình cho thấy sự đồng tâm nhất trí hành động cách yêu thương của toàn thể dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay. Trong trận chiến với người A-ma-léc, “Đa-vít đánh chúng nó từ tảng sáng ngày đó cho đến chiều” và tịch thâu được nhiều chiến lợi phẩm. Khi trở về trại, một số lính của Đa-vít yêu cầu đừng chia bất cứ một chiến lợi phẩm nào với những ai đã không xông pha nơi chiến trường với họ. Nhưng Đa-vít đáp: “Ai theo lời định ước của các ngươi được? Phần của kẻ ra trận và phần của kẻ giữ đồ-vật phải bằng nhau; chúng sẽ chia cho nhau vậy”.
7 Nguyên tắc này cũng được áp dụng ngày nay. Những người khai thác dẫn đầu cuộc chiến thiêng liêng của chúng ta. Nhưng tất cả những người khác trong hội-thánh trung thành ủng hộ họ hết lòng. Giờ đây chúng ta hãy cùng xem kết quả mỹ mãn do hoạt động phối hợp của họ trong năm 1991 qua bảng báo cáo sau đây.
Một báo cáo xuất sắc
8. a) Bảng báo cáo thế giới cho thấy gì về tổng số những người tuyên bố và số giờ họ dành cho công việc phụng sự Đức Giê-hô-va? b) Bạn lưu ý thấy có điểm nào đáng kể trong các nước mới xuất hiện trên bảng báo cáo?
8 Đúng, bốn trang trước của tạp chí này cho thấy nỗ lực phối hợp của tất cả mọi người hăng say thờ phượng Đức Giê-hô-va đã góp phần đem lại một sự bành trướng khắp thế giới trong năm 1991. Người ta ghi nhận một con số mới cao nhất thật tốt là 4.278.820 người tuyên bố về Nước Trời. Tỉ lệ gia tăng là 6,5%. Họ dành ra 951.870.021 giờ (gần một tỷ giờ!) để rao giảng. Ngoài ra, cũng xin lưu ý đến sự cố gắng đáng kể của các anh em chúng ta tại những xứ mới được nêu ra trong bảng báo cáo khắp thế giới—Bảo Gia Lợi, Cameroon, Tiệp Khắc, Ê-thi-ô-bi, Mozambique, Nicaragua, Rwanda và cựu Liên bang Sô-viết.
9, 10. a) Những người khai thác phản ứng thế nào ghi gặp những lúc khó khăn? b) Có sự khuyến khích nào giúp cho những ai muốn gia nhập hàng ngũ khai thác?
9 Trong những năm gần đây tinh thần khai thác đã lan rộng trên khắp thế giới. Ngay cả tại những nước mới được tự do tôn giáo gần đây, con số những người khai thác gia tăng nhanh chóng. Tình trạng kinh tế khó khăn không ngăn cản các Nhân-chứng kiên quyết này hiến dâng hết mọi sự cho sự thờ phượng Đức Giê-hô-va. (So sánh II Cô-rinh-tô 11:23, 27). Trung bình mỗi tháng có 14% tất cả những người tuyên bố về Nước Trời làm khai thác. Con số những người khai thác cao nhất là 780.202 người, tức 18% tất cả những người tuyên bố—một tỉ lệ rất cao.
10 Khi chứng kiến niềm vui mà những người khai thác có được, những người khác cảm thấy khích lệ và cũng tham gia làm khai thác nữa. Nếu bạn chưa làm khai thác, có thể nào lòng yêu mến của bạn đối với Đức Giê-hô-va thúc đẩy bạn nói giống như Ê-sai nơi Ê-sai 6:8: “Có tôi đây; xin hãy sai tôi”, không? Hoặc qua sự học hỏi Kinh-thánh siêng năng của bạn, Lời Đức Chúa Trời phát động sự ham muốn mãnh liệt trong lòng bạn, khiến bạn nhất quyết phải tham gia công việc khai thác chăng? Ngay cả trong lúc bị thử thách, lời của Đức Giê-hô-va đã khích lệ Giê-rê-mi đến nỗi ông không thể nín lặng được (Giê-rê-mi 20:9).
Yêu thương phục vụ nhân loại
11. Hoạt động về các học hỏi Kinh-thánh gia tăng như thế nào?
11 Một trong các khía cạnh nổi bật nhất trong bảng báo cáo toàn niên là sự gia tăng của các học hỏi Kinh-thánh miễn phí tại nhà riêng. Mỗi tháng đã có tới 3.947.261 học hỏi Kinh-thánh đều đặn trên khắp thế giới. Đây là một sự sắp đặt đầy yêu thương nhờ đó mà Nhân-chứng Giê-hô-va tiếp tục giúp đỡ những người chú ý đến Kinh-thánh mà họ gặp được khi rao giảng từ nhà này sang nhà kia. Chúng ta vui thích điều khiển các học hỏi Kinh-thánh với những người thuộc mọi quốc tịch và nguồn gốc chủng tộc, rao giảng cách nhiệt tâm giống như sứ đồ Phao-lô. Ông “giảng cho người Giu-đa như cho người Gờ-réc”. Điều này chắc hẳn đòi hỏi ông phải dành ra nhiều thì giờ để dạy dỗ về lẽ thật (Công-vụ các Sứ-đồ 20:20, 21). Ngày nay cũng thế. Nhân-chứng Giê-hô-va giúp đỡ cho “mọi người được cứu-rỗi và hiểu-biết lẽ thật” (I Ti-mô-thê 2:4).
12-14. Có những báo cáo vui mừng nào đến từ Âu Châu?
12 Các báo cáo về hoạt động học hỏi Kinh-thánh đang gia tăng tại Đông Âu thật là hào hứng làm sao! Trong suốt mấy chục năm các anh chị em của chúng ta tại đó đã phải nhóm họp thành từng nhóm nhỏ, có lẽ mỗi nhóm chỉ có vỏn vẹn một tạp chí Tháp Canh cũ quay rô-nê-ô để cho tất cả mọi người xem chung. Nhưng bây giờ thì Kinh-thánh và sách báo giải thích Kinh-thánh được gửi đi ào ạt vào những nước đó. Điều này gợi lại cho chúng ta nhớ Nhã-ca 2:4: “Người [Giê-su Christ] đưa tôi vào phòng yến-tiệc [thiêng liêng], ngọn cờ người phất trên tôi ấy là ái-tình”. Nhờ có tạp chí riêng, nhiều người được trang bị kỹ càng để “lấy lòng ngay-thẳng giảng-dạy lời của lẽ thật” (II Ti-mô-thê 2:15).
13 Tại nước Nga, một hội-thánh ở thành phố St. Petersburg có 103 người tuyên bố. Gần đây họ báo cáo có hơn 300 học hỏi Kinh-thánh. Kết quả là chỉ trong vòng tám tháng 53 người đã làm báp têm trở thành Nhân-chứng. Hơn phân nửa hội-thánh đã vào lẽ thật trong vòng tám tháng vừa qua hay ít hơn! Hơn nữa, họ không có trưởng lão và chỉ có mỗi một tôi tớ chức vụ chăm sóc sự tiến bộ về thiêng liêng của họ.
14 Một người học Kinh-thánh tại Estonia hỏi người tuyên bố về Nước Trời xem bà có thể mời một số người bạn đến cùng học Kinh-thánh với bà không. Tuần sau đó, khi trở lại điều khiển học hỏi, chị Nhân-chứng gặp tới trên 50 người đã nhóm lại tại đó! Dĩ nhiên, người ta phải sắp đặt riêng biệt để có thể tiếp tục chăm sóc tất cả những người chú ý đó.
15. Người ta có thể nói gì về số người tham dự Lễ Kỷ niệm và số người làm báp têm?
15 Nhiều người đang học hỏi Kinh-thánh đã tiếp xúc với tín đồ đấng Christ lần đầu tiên khi đến dự Lễ Kỷ niệm sự chết của Giê-su. Năm ngoái, lần đầu tiên số người hiện diện đã vượt qua con số 10.000.000. Trên khắp thế giới đã có tới 10.650.158 người nhóm lại trong 66.207 hội-thánh vào dịp vui mừng đó. Tại nhiều nước ở Trung và Nam Mỹ, Phi Châu và Đông Âu, số người hiện diện đông gấp ba hay bốn lần số người tuyên bố về Nước Trời. Bây giờ chúng ta phải sửa soạn cho Lễ Kỷ niệm năm 1993, cử hành vào Thứ Ba, ngày 6 tháng 4. Chúng ta hy vọng một số đông những người mới học hỏi Kinh-thánh sẽ tham dự Lễ Kỷ niệm và tiếp tục tiến bộ để đi đến báp têm. Nói về báp têm, năm 1991 chúng ta thấy có hơn 300.000 người biểu hiệu sự dâng mình của họ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời qua sự trầm mình trong nước.
Những người yêu chuộng sự tự do của Đức Chúa Trời
16. Có những báo cáo hào hứng nào từ các hội nghị địa hạt “Những người yêu chuộng tự do”?
16 Một phương diện đặc sắc của năm công tác 1991 là loạt hội nghị địa hạt “Những người yêu chuộng tự do”. Lần đầu tiên toàn bộ chương trình hội nghị đã diễn ra tại một số nước ở Đông Âu, nơi mà giờ đây anh chị em của chúng ta vui hưởng sự tự do mới có để ngợi khen Đức Giê-hô-va. Vào tháng 10 năm 1991, tổng số những người có mặt tại 705 hội nghị đầu tiên trong 54 nước là 4.774.937 người.
17, 18. a) Những người thờ phượng Đức Giê-hô-va vui hưởng và trông mong những sự tự do nào? b) Sự tự do của Đức Chúa Trời khác thế nào với sự tự do của thế gian?
17 Giê-su nói với môn đồ: “Lẽ thật sẽ giải thoát các ngươi” (Giăng 8:32, NW). Ngày nay, lẽ thật Kinh-thánh đã giải thoát hàng triệu người ra khỏi các giáo điều của những tôn giáo tự xưng theo đấng Christ. Hàng triệu người này được biết đến sự sắp đặt của Đức Giê-hô-va qua sự hy sinh làm giá chuộc của Giê-su. Giá chuộc sẽ giúp cho nhân loại “được giải-cứu khỏi làm tôi sự hư-nát, đặng dự phần trong sự tự-do vinh-hiển của con-cái Đức Chúa Trời” (Rô-ma 8:19-22). Được sống đời đời trong một địa-đàng trên đất và trong phạm vi thích đáng mà Đức Giê-hô-va ấn định một cách đầy yêu thương, đó thật là một sự tự do cao quí thay! (Ê-sai 25:6-8; so sánh Công-vụ các Sứ-đồ 17:24-26).
18 Đức Chúa Trời của chúng ta là Đức Giê-hô-va ban cho những sự tự do mà giờ đây các Nhân-chứng Giê-hô-va vui hưởng và trông mong được vui hưởng nhiều hơn nữa trong hệ thống mới của Đức Chúa Trời (II Cô-rinh-tô 3:17). Sự tự do đó không tùy thuộc vào bất cứ phong trào chính trị hay cách mạng nào (Gia-cơ 1:17). Để tránh bất cứ sự hiểu lầm nào về điểm này, Nhân-chứng Giê-hô-va tại một số nước ở Đông Âu mang phù hiệu hội nghị địa hạt năm 1991 với chủ đề “Những người yêu chuộng tự do của Đức Chúa Trời” thay vì chỉ đơn thuần “Những người yêu chuộng tự do”.
Tha thiết yêu thương Đức Giê-hô-va
19. Sự mật thiết với Đức Giê-hô-va qua lời cầu nguyện có thể nâng đỡ chúng ta như thế nào?
19 Vì yêu thương Đức Giê-hô-va và tin cậy nơi Ngài nên chúng ta gần gũi với Ngài qua lời cầu nguyện. Chính sự mật thiết với Đức Giê-hô-va đã giúp anh chị em của chúng ta chịu đựng được những sự khốn khổ và bắt bớ (Thi-thiên 25:14, 15). Trong giờ phút thử thách gay gắt nhất, Giê-su đã giữ vững sự mật thiết với Cha ngài qua lời cầu nguyện (Lu-ca 22:39-46). Sự mật thiết dường ấy với Đức Giê-hô-va qua lời cầu nguyện đã giúp Ê-tiên chịu đựng sự đau đớn cực độ trước khi tử vì đạo. Ngước mắt lên trời khi sắp bị ném đá cho đến chết, ông nói: “Kìa, ta thấy các từng trời mở ra, và Con người [Giê-su] đứng bên hữu Đức Chúa Trời” (Công-vụ các Sứ-đồ 7:56).
20-22. Một kinh nghiệm cho thấy rõ Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện như thế nào?
20 Như những người thờ phượng Đức Giê-hô-va đã rất thường thấy, Đức Giê-hô-va đáp lại lời cầu nguyện phù hợp với ý muốn của Ngài. Thí dụ, tại một nước ở Phi Châu, nơi mà công việc của Nhân-chứng Giê-hô-va bị cấm đoán, một người khai thác đặc biệt lấy xe buýt đi về hướng bắc đem theo một bao lớn đựng đầy sách báo về Nước Trời và các phong bì để phân phát. Người lơ xe buýt chất hành lý hỏi anh: “Bao đó đựng gì thế?” Anh vội vã đáp: “Thư từ”.
21 Dọc đường, xe buýt chạy vượt qua một trạm kiểm soát thường lệ và cảnh sát công lộ nghi xe chở hàng hóa buôn lậu nên đuổi theo và bắt xe đó phải dừng lại. Cảnh sát ra lệnh tất cả hành khách xuống xe để họ khám hết hành lý. Đó thật là những giây phút hồi hộp căng thẳng! Anh Nhân-chứng đi một quãng ngắn để xa đám hành khách đang lằm bằm và anh quì xuống đất cầu nguyện với Đức Giê-hô-va. Khi trở lại với đám hành khách, anh thấy cảnh sát đang mở hành lý của từng người một và khám xét kỹ lưỡng. Khi cảnh sát vừa định mở cái bao của anh, anh cầu nguyện thầm xin Đức Giê-hô-va giúp đỡ.
22 Viên cảnh sát quát tháo: “Cái bao này của ai đây, đựng gì?” Trước khi anh mở miệng trả lời, người lơ xe buýt đáp: “Đó là thư của trạm bưu điện —— đến trạm bưu điện ——”. Viên cảnh sát nói: “Được rồi” và nhấc cái bao lên trao lại cho người lơ xe buýt. Cảnh sát ra lệnh: “Anh nên giữ cái bao này ở chỗ an toàn cho tới khi đến nơi”. Một lần nữa người khai thác đặc biệt quì xuống đất để tạ ơn Đấng nghe lời cầu nguyện (Thi-thiên 65:2; Châm-ngôn 15:29).
23. Đức Giê-hô-va đã chứng tỏ điều gì, nhưng tại sao đôi khi Ngài cho phép sự bắt bớ đi đến cực độ?
23 Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là những người thờ phượng Đức Giê-hô-va hoàn toàn tránh khỏi tai họa. Trong một vài tình thế nào đó, vào thời xưa khi Kinh-thánh được viết ra cũng như ngày nay, Đức Giê-hô-va chứng tỏ Ngài có thể giải cứu dân sự của Ngài. Nhưng để cho phù hợp với việc giải quyết cuộc tranh chấp về lòng trung kiên, dường như Ngài có khi cho phép sự bắt bớ đi đến cực độ (So sánh Ma-thi-ơ 26:39). Hơn nữa, Đức Giê-hô-va không tự động che chở dân sự của Ngài khỏi tai nạn, nội chiến hoặc tội ác, nhưng nếu thực hành sự khôn ngoan thực tiễn dựa trên Kinh-thánh thì có thể giúp ích cho họ (Châm-ngôn 22:3; Truyền-đạo 9:11). Tuy nhiên, chúng ta có thể tin tưởng rằng dù có được giải cứu khỏi những tình thế khốn khó hay không, sự trung thành của chúng ta sẽ được tưởng thưởng, ngay cả bằng sự sống lại nếu cần (Ma-thi-ơ 10:21, 22; 24:13).
24. Đức Giê-hô-va cung cấp những sự ban cho đầy yêu thương nào, và chúng ta có thể đáp ứng thế nào trước lòng yêu thương của Ngài?
24 Các sự ban cho đầy yêu thương của Đức Giê-hô-va thật là kỳ diệu làm sao! Ngài ban trái đất cùng với mọi công trình ở trên đất cho nhân loại: đó là một sự thể hiện tình yêu thương rất đặc sắc (Thi-thiên 104:1, 13-16; 115:16). Ngoài ra, việc Đức Chúa Trời ban cho Con Ngài là Giê-su Christ để chuộc nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết là sự ban cho đầy yêu thương nhất của Ngài. “Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày-tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế-gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống. Nầy, sự yêu-thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của-lễ chuộc tội chúng ta” (I Giăng 4:9, 10). Để đáp lại tình yêu thương đó, mong sao chúng ta có thể tin chắc rằng “bất-kỳ sự chết, sự sống, các thiên-sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền-phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân-rẽ chúng ta khỏi sự yêu-thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Giê-su Christ, là Chúa chúng ta” (Rô-ma 8:38, 39).
Ôn lại bài này
◻ Trung thành có nghĩa gì?
◻ Chúng ta có thể bày tỏ lòng yêu thương đối với Đức Giê-hô-va trong các lãnh vực hoạt động nào?
◻ Bạn chú ý nhiều nhất đến khía cạnh nào của bảng báo cáo công tác cho năm ngoái?
◻ Chúng ta có thể bày tỏ lòng quí mến đối với những sự ban cho đầy yêu thương của Đức Giê-hô-va như thế nào?
[Khung nơi trang 15]
TẠI SAO CÓ NHIỀU NGƯỜI KHAI THÁC NHƯ THẾ?
Theo lịch sử thì người Nhật một thời rất mực tôn sùng hoàng đế của họ trong suốt 2.600 năm. Trong các cuộc chiến tranh của riêng thế kỷ 20 này có hơn ba triệu người lính Nhật đã hy sinh mạng sống của họ bởi vì họ nghĩ rằng không có gì vinh dự hơn là chết cho hoàng đế và cũng là thần của họ. Nhưng chế độ quân phiệt chịu ảnh hưởng của Phật giáo lẫn Thần đạo đã thất bại trong Thế chiến II. Sau đó Nhật hoàng tuyên bố ông không phải là thần thánh gì cả. Điều gì có thể lắp khoảng trống về tôn giáo này? Vui sướng thay, các giáo sĩ Nhân-chứng Giê-hô-va và sau đó các Nhân-chứng người Nhật đã điều khiển nhiều học hỏi Kinh-thánh tại nhà riêng và họ đã giúp nhiều người tìm thấy Đức Chúa Trời thật danh là Đức Giê-hô-va và giúp họ dâng đời sống của họ cho Ngài. Sự dâng mình này có ý nghĩa rất nhiều đối với các Nhân-chứng người Nhật. Nếu trong quá khứ họ đã hy sinh mạng sống của họ cho một người vừa là hoàng đế vừa là thần, hẳn giờ đây họ còn hiến dâng năng lực của họ một cách hăng say hơn để làm người khai thác khi họ thờ phượng Đức Chúa Trời hằng sống và Đấng Tạo hóa của vũ trụ, tức là Đức Chúa Tối thượng Giê-hô-va!
[Biểu đồ/Bảng thống kê nơi trang 10-13]
BÁO CÁO RAO GIẢNG NĂM 1991 CỦA NHÂN-CHỨNG GIÊ-HÔ-VA TRÊN KHẮP THẾ GIỚI
(Xin xem trong ấn phẩm)
[Hình nơi trang 16]
Những người yêu chuộng tự do của Đức Chúa Trời—những người thờ phượng Đức Giê-hô-va trong hội nghị địa hạt tại Prague, ngày 9-11 tháng 8 năm 1991